Nghị định số 180/2026/NĐ-CP: Hành lang pháp lý chính thức mở cửa thị trường các-bon rừng tại Việt Nam

10-06-2026

 170 views

 170 views

Ngày 21 tháng 5 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định toàn diện về việc phát triển, xác nhận, giao dịch, và hưởng lợi từ tín chỉ các-bon rừng tại Việt Nam.

Sau nhiều năm chờ đợi, những vấn đề cốt lõi từng là rào cản lớn nhất của thị trường như quyền sở hữu tín chỉ, chủ thể được phát triển dự án, điều kiện giao dịch, và cơ chế phân chia lợi ích đã được quy định cụ thể.

Dưới đây là một số điểm đáng chú ý từ Nghị định này.

1. Quyền sở hữu tín chỉ các-bon rừng được xác lập rõ ràng

Một trong những câu hỏi lớn nhất của thị trường trong nhiều năm qua là “Ai là người được sở hữu tín chỉ các-bon được tạo ra từ rừng”. Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã lần đầu tiên đưa ra cơ chế xác định rõ chủ sở hữu đối với kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng

Khoản 4 Điều 3 quy định: Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, quyền đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng được xác định theo chủ thể thực hiện dự án:

  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu đối với dự án do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện
  • UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu đối với dự án do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện
  • Chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ từ dự án do chính chủ rừng thực hiện.

Việc xác định rõ chủ sở hữu theo chủ thể thực hiện dự án có ý nghĩa quan trọng: Đây là điều kiện tiên quyết để tín chỉ các-bon rừng có thể được đăng ký, giao dịch và chuyển nhượng hợp pháp trên thị trường.

2. Chủ rừng chính thức được quyền phát triển dự án các-bon rừng

Lần đầu tiên, các chủ rừng, bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư, được trao quyền chính thức đăng ký và thực hiện dự án các-bon rừng theo quy định của pháp luật, với các hình thức linh hoạt như tự thực hiện, hợp tác, liên kết hoặc ủy quyền cho tổ chức khác. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chủ rừng có thể chủ động tham gia thị trường tín chỉ các-bon.

Điều 8 của Nghị định quy định chủ thể được xây dựng dự án theo từng loại rừng, cụ thể:

Quy định này mở ra cơ hội huy động nhiều nguồn lực xã hội tham gia phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng thay vì chỉ dựa vào các chương trình, thỏa thuận cấp quốc gia như trước đây.

3. Tín chỉ các-bon rừng chỉ được giao dịch khi đã được xác nhận trước

Theo điểm d khoản 1 Điều 5 kết hợp khoản 3 Điều 10, bên cung ứng dịch vụ chỉ được trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận. Đây là một nguyên tắc quan trọng giúp kiểm soát thị trường, tránh bán trùng lặp hoặc bán tín chỉ chưa được kiểm chứng.

Khoản 3 Điều 3 cũng quy định: tín chỉ đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch thì không được trao đổi, chuyển nhượng cho bên khác.

Đây là yêu cầu mà các chủ dự án cần đặc biệt lưu ý để tín chỉ các-bon rừng có đủ điều kiện tham gia và giao dịch trên thị trường.

4. Cơ chế giá sàn tạo nền tảng cho thị trường

Điều 7 quy định về mức chi trả và định giá, cụ thể:

  • Bộ trưởng Bộ NNMT quy định phương pháp xác định mức chi trả đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, đơn vị tính bằng Đồng Việt Nam trên 01 tấn CO₂ hoặc 01 tín chỉ các-bon rừng. Văn bản hướng dẫn này hiện chưa được ban hành.
  • Giá giao dịch trong nước tính bằng VND; trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài thì tính bằng ngoại tệ theo quy định pháp luật về quản lý ngoại hối.
  • Giá trao đổi, chuyển nhượng lần đầu không được thấp hơn mức chi trả do Bộ xác định — tức là có sàn giá tối thiểu, áp dụng với cả giao dịch trong nước và quốc tế.
  • Chủ rừng tư nhân được khuyến khích (không bắt buộc) áp dụng phương pháp định giá nêu trên

Cần lưu ý rằng Điều 7 chỉ quy định khung giá và phương pháp định giá; thủ tục, điều kiện và quy trình cụ thể đối với giao dịch quốc tế được điều chỉnh bởi Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon.

5. Cơ chế hưởng lợi rõ ràng, tạo động lực cho phát triển dự án

Một trong những nội dung được các chủ rừng và nhà đầu tư quan tâm nhất là cơ chế quản lý và phân chia nguồn thu từ tín chỉ các-bon rừng. Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã thiết lập hai hình thức chi trả tương ứng với chủ thể tham gia giao dịch, từ đó đảm bảo tính minh bạch và phù hợp với từng mô hình phát triển dự án.

Chi trả trực tiếp: Áp dụng khi chủ rừng hoặc tổ chức được ủy quyền tự ký hợp đồng. Bên cung ứng có toàn quyền quyết định sử dụng số tiền thu được sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế, phí, lệ phí. Đối với bên cung ứng là tổ chức, số tiền còn lại sau khi trừ chi phí xây dựng, thực hiện dự án, chi trả cho bên nhận khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ cộng đồng dân cư vùng đệm (nếu có) là nguồn thu của tổ chức, quản lý theo pháp luật tài chính phù hợp với loại hình tổ chức đó.

Chi trả gián tiếp qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng: Áp dụng khi hợp đồng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký hoặc UBND cấp tỉnh ký. Luồng tiền được tổ chức theo thứ tự:

  • Tại Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng: Sau khi trích kinh phí quản lý và tối đa 3% tổng số tiền thực thu để hỗ trợ các hoạt động đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), xây dựng dự án, cơ sở dữ liệu lâm nghiệp và các hoạt động Nhà nước chưa bố trí đủ kinh phí, số còn lại được điều phối cho Quỹ tỉnh.
  • Tại Quỹ tỉnh: Sau khi trích kinh phí quản lý, số còn lại chi trả cho các đối tượng hưởng lợi.

Có thể thấy, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế tài chính tương đối linh hoạt, vừa tạo điều kiện để các chủ rừng và tổ chức phát triển dự án chủ động khai thác giá trị kinh tế từ tín chỉ các-bon, vừa đảm bảo nguồn lực cho công tác quản lý, giám sát, và chia sẻ lợi ích trong các chương trình quy mô lớn do Nhà nước điều phối.

6. Cơ hội lớn nhưng cần các điều kiện sẵn sàng cho việc triển khai

Nhìn chung, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tín chỉ các-bon rừng tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc phát triển thành công một dự án tín chỉ các-bon rừng đòi hỏi năng lực kỹ thuật và quản trị chuyên sâu, bao gồm: đánh giá khả thi và thiết kế dự án theo đúng tiêu chuẩn các-bon áp dụng, xây dựng đường cơ sở phát thải, thiết lập hệ thống đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV), đảm bảo tham vấn cộng đồng và các yêu cầu về môi trường và xã hội, cũng như duy trì thực hiện và giám sát dự án các-bon đáp ứng yêu cầu trong suốt thời gian cam kết.

Để được tư vấn thêm về pháp lý, kỹ thuật và quản trị liên quan đến tín chỉ các-bon rừng và cơ hội tham gia thị trường, quý đơn vị vui lòng liên hệ với Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC)

Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường

Địa chỉ văn phòng: Tầng 8, toà nhà Diamond Flower, 48 Lê Văn Lương, Yên Hoà, Hà Nội

Hotline: +84 886675609

Email: eec@eec.vn   –   Website: eec.vn

 171 views,  171 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *