Tiêu chí xác định cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026
Ngày 27/02/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải KNK cho năm 2025 và năm 2026. Theo đó, 110 cơ sở thuộc ba lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng đã được thí điểm phân bổ hạn ngạch cho năm 2025 và năm 2026. Các cơ sở này phải đáp ứng ba tiêu chí quy định tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP (NĐ 119/2025/NĐ-CP) ngày 09/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP (NĐ 06/2022/NĐ-CP) ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải KNK và bảo vệ tầng ô-dôn:
1) Bao gồm trong Phụ lục II, Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg (QĐ 13/2024/QĐ-TTg) ngày 13/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK (cập nhật);
2) Đã hoạt động thương mại từ ngày 01/01/2022, để đảm bảo đủ 3 năm dữ liệu (2022, 2023 và 2024) cho việc thí điểm phân bổ hạn ngạch theo phương pháp xác định hạn ngạch phát thải KNK cho cơ sở phát thải KNK được phân bổ hạn ngạch quy định tại NĐ 119/2025/NĐ-CP; và
3) Đối với nhà máy nhiệt điện là các nhà máy nhiệt điện đốt than, dầu và khí. Đối với cơ sở sản xuất sắt thép là các cơ sở sản xuất thép thô (các cơ sở chỉ cán thép, gia công thép mà không có công đoạn sản xuất thép thô từ quặng hoặc thép phế không được thí điểm phân bổ cho giai đoạn 2025-2026). Đối với cơ sở sản xuất xi măng là các cơ sở có sản xuất clinker (các trạm nghiền độc lập, các nhà máy chỉ sản xuất xi măng mà không có hoạt động sản xuất clinker không được thí điểm phân bổ hạn ngạch cho giai đoạn 2025-2026).
NĐ 06/2022/NĐ-CP quy định danh mục lĩnh vực, cơ sở phải kiểm kê KNK sẽ được rà soát và cập nhật định kỳ 02 năm một lần do vậy các cơ sở thuộc đối tượng trên mà CHƯA bao gồm trong QĐ 13/2024/QĐ-TTg hoặc vận hành thương mại từ SAU ngày 01/01/2022 có thể được bổ sung trong kỳ phân bổ hạn ngạch thí điểm tiếp theo cho năm 2027-2028. Đồng thời một số cơ sở thuộc 3 lĩnh vực trên nhưng có mức phát thải KNK thấp (dưới 3.000 tCO2tđ/năm) có thể bị loại khỏi danh mục cơ sở phải kiểm kê KNK bắt buộc và tương ứng bị loại khỏi danh sách thí điểm phân bổ hạn ngạch trong kỳ tiếp theo.
Vì sao các cơ sở cán thép, gia công thép, các cơ sở chỉ sản xuất xi măng, các trạm nghiền xi măng độc lập không được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026?
Phát thải KNK trực tiếp (Phạm vi 1) từ sản xuất điện, sắt thép và xi măng chiếm trên 40% tổng lượng phát thải KNK của Việt Nam.
Đối với lĩnh vực sản xuất điện, việc lựa chọn các nhà máy nhiệt điện là đối tượng phân bổ khá dễ hiểu vì ngoài nhiệt điện (chiếm trên 99% phát thải từ lĩnh vực sản xuất điện) các nhà máy điện năng lượng tái tạo khác hầu như không phát thải KNK.
Đối với sản xuất sắt thép, công đoạn sản xuất thép thô chiếm trên 85% tổng phát thải KNK từ lĩnh vực này, chủ yếu là phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu và nguyên liệu. Dù phát phải lớn nhưng số lượng cơ sở sản xuất thép thô không nhiều, cụ thể chỉ 25 cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026. Các cơ sở này sử dụng 4 công nghệ khác nhau gồm: lò cao – lò thổi ô-xi (BF-BOF), lò cao – lò hồ quang điện (BF-EAF), lò hồ quang điện (EAF) và lò cảm ứng trung tần (IF) nhưng đều sản xuất ra sản phẩm có khả năng đồng nhất về một đơn vị duy nhất là “tấn thép thô”. Do vậy phù hợp để phân bổ hạn ngạch theo “lượng phát thải KNK trung bình trên một đơn vị sản phẩm” – phương pháp phân bổ được quy định tại NĐ 119/2025/NĐ-CP. Ngược lại có hàng trăm cơ sở cán thép, gia công thép thô thành thép thành phẩm, bán thành phẩm với đa dạng chủng loại, kích cỡ, mức tiêu thụ nguyên – nhiên liệu, mức phát thải KNK… khác nhau và KHÔNG có khả năng quy đổi về một loại đơn vị chung (chỉ riêng QĐ 13/2024/QĐ-TTg đã bao gồm trên 120 cơ sở loại này). Công đoạn cán thép, gia công thép chỉ phát thải dưới 15% tổng phát thải KNK của lĩnh vực sản xuất sắt thép, mà chủ yếu là phát thải KNK gián tiếp (Phạm vi 2). Do không có khả năng đồng nhất về một loại “sản phẩm” chung, các cơ sở cán thép, gia công thép không được thí điểm phân bổ hạn ngạch cho giai đoạn 2025-2026.
Đối với sản xuất xi măng, công đoạn sản xuất clinker chiếm trên 90% tổng phát thải KNK từ lĩnh vực này, chủ yếu là phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu và phân hủy nguyên liệu có chứa gốc cacbonat. Phát thải từ công đoạn nghiền xi măng chỉ chiếm dưới 10% tổng phát thải KNK của lĩnh vực và chủ yếu đến từ tiêu thụ điện năng – phát thải gián tiếp. Nhiều cơ sở sản xuất xi măng không tự sản xuất clinker mà mua clinker từ các cơ sở khác, xi măng thành phẩm gồm nhiều loại với tỷ lệ sử dụng clinker khác nhau khiến cho việc xác định lượng phát thải KNK trên một tấn xi măng trở lên khó khăn. Các nhà máy chỉ sản xuất xi măng, các trạm nghiền độc lập do vậy không được thí điểm phân bổ hạn ngạch năm 2025-2026.

Các cơ sở cán thép, gia công thép, các cơ sở chỉ sản xuất xi măng, các trạm nghiền xi măng độc lập không được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026
Kiểm kê KNK phục vụ thí điểm phân bổ hạn ngạch năm 2025-2026
Hạn ngạch được phân bổ miễn phí trong giai đoạn thí điểm 2025 – 2026. Phương pháp phân bổ hạn ngạch phát thải KNK cho các cơ sở được quy định tại Phụ lục NĐ 119/2025/NĐ-CP. Hạn ngạch phát thải KNK được xác định trên cơ sở tổng hợp các yếu tố gồm: dữ liệu lịch sử về sản lượng sản phẩm trung bình của cơ sở trong ba năm 2022, 2023 và 2024; mức phát thải KNK trên một đơn vị sản phẩm cho giai đoạn 2022-2024; và dữ liệu dự báo về mục tiêu tăng trưởng của lĩnh vực; mục tiêu giảm phát thải KNK của lĩnh vực và của từng cơ sở theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh; tiềm năng giảm phát thải của cơ sở; cũng như năng lực kỹ thuật, công nghệ và tài chính của cơ sở trong việc thực hiện các biện pháp giảm phát thải KNK. Trong đó, mức phát thải KNK trung bình trên một đơn vị sản phẩm được xác định trên cơ sở “lượng phát thải KNK trung bình trên một đơn vị sản phẩm”, cụ thể: kWh điện đối với nhà máy nhiệt điện; tấn thép thô đối với cơ sở sản xuất thép thô; và tấn clinker đối với cơ sở sản xuất clinker.
Đặc biệt, mức phát thải KNK trên một đơn vị sản phẩm được xác định riêng cho từng loại công nghệ trong mỗi lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực nhiệt điện được chia thành 4 nhóm công nghệ: điện than, dầu, khí và đồng đốt; lĩnh vực sản xuất sắt thép cũng gồm 4 nhóm công nghệ: BF-BOF, BF-EAF, EAF và IF; riêng lĩnh vực sản xuất xi măng chỉ áp dụng một mức phát thải trên đơn vị sản phẩm là tấn clinker, do lò quay – phương pháp khô là công nghệ duy nhất để sản xuất xi măng hiện tại.
Kiểm kê KNK phục vụ thí điểm phân bổ hạn 2025-2026 do vậy là xác định Dấu chân các-bon của sản phẩm (gồm điện, thép thô và clinker), phạm vi hẹp nhưng sâu hơn so với kiểm kê KNK thông thường áp dụng cho toàn bộ các nguồn phát thải của cơ sở theo NĐ 06/2022/NĐ-CP, NĐ 119/2025/NĐ-CP và các thông tư về MRV & kiểm kê KNK của các bộ quản lý lĩnh vực, cụ thể như sau:
Đường biên kiểm kê: chỉ bao công đoạn sản xuất điện với nhà máy nhiệt điện; công đoạn sản xuất thép thô đối với cơ sở sản xuất sắt thép; công đoạn sản xuất clinker với cơ sở sản xuất xi măng. Điều này nghĩa là nếu một nhà máy thép có công đoạn cán và sản xuất sản phẩm hoàn thiện sau cán hoặc một nhà máy xi măng có cả công đoạn sản xuất xi măng thì cũng chỉ công đoạn sản xuất thép thô và sản xuất clinker được bao gồm trong phạm vi kiểm kê của kỳ phân bổ thí điểm đầu tiên này.
Nguồn phát thải: Chỉ nguồn phát thải trực tiếp (Phạm vi 1) từ đốt nhiên liệu cố định và quá trình công nghiệp do sử dụng nguyên liệu chứa gốc cacbonat có liên quan trực tiếp đến sản xuất điện, thép thô và clinker được bao gồm trong phạm vi kiểm kê cho thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026. Các nguồn phát thải trực tiếp khác của cơ sở như đốt nhiên liệu cố định cho thiết bị phụ trợ (bơm cứu hỏa, máy phát điện dự phòng…), đốt nhiên liệu di động cho thiết bị vận chuyển, xử lý nước thải, xử lý chất thải, rò rỉ môi chất lạnh… KHÔNG bao gồm trong phạm vi kiểm kê này. Các nguồn phát thải gián tiếp khác từ mua điện, mua hơi… cũng KHÔNG bao gồm trong phạm vi kiểm kê phục vụ thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025-2026.
Bậc kiểm kê: Phương pháp bậc 1 (Tier 1) áp dụng cho nguồn phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu, phương pháp bậc 2 (Tier 2) áp dụng cho nguồn phát thải từ quá trình công nghiệp – tiêu thụ nguyên liệu trong quá trình luyện thép và phân hủy cacbonat trong quá trình nung clinker. Phương pháp kiểm kê tuân thủ hướng dẫn từ các thông tư về MRV & kiểm kê KNK của các bộ quản lý lĩnh vực và hướng dẫn của IPCC. Việc áp dụng phương pháp bậc 2 cho các nguồn phát thải từ quá trình công nghiệp giúp phân loại các cơ sở có công nghệ tiên tiến hay lạc hậu trong sản xuất thép thô và sản xuất clinker.
Hệ số phát thải: nhất quán áp dụng hệ số phát thải tại Quyết định số 2626/QĐ-BTNMT ngày 10/10/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) công bố danh mục hệ số phát thải phục vụ kiểm kê KNK và bổ sung bằng các hệ số phát thải mặc định từ IPCC.
Nhiệt trị của nhiên liệu: nhất quán áp dụng nhiệt trị ròng mặc định từ các thông tư về MRV & kiểm kê KNK của các bộ quản lý lĩnh vực và bổ sung từ IPCC cho tất cả các cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch. Nhiệt trị ròng riêng cho nhiên liệu của từng cơ sở có thể được sử dụng trong các kỳ phân bổ tiếp theo khi có hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý và tất cả các cơ sở cung cấp được chính xác giá trị này.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng tổ chức thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải KNK cho từng cơ sở trong các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng cho giai đoạn thí điểm 2025–2026. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn triển khai thực hiện, tổ chức đánh giá, tổng kết quá trình thí điểm, và đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến kiểm kê KNK và phân bổ hạn ngạch phát thải KNK. Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng có trách nhiệm theo dõi, giám sát và đánh giá việc thực hiện hạn ngạch phát thải của các cơ sở được phân bổ trong phạm vi lĩnh vực quản lý của mình.
87 views, 87

Tags:
Bài viết liên quan